PHÂN TÍCH QUỸ ĐẠO TĂNG TRƯỞNG VÀ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC MỸ - NHẬT TRONG TƯƠNG TÁC GIỮA ĐỘNG LỰC KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ CƯỜNG QUYỀN
1. Bản chất của mối quan hệ giữa kinh tế học và chính trị quốc tế
Trong lĩnh vực nghiên cứu quan hệ quốc tế và kinh tế chính trị toàn cầu, tầm ảnh hưởng thực tế của các động lực kinh tế đối với các quyết định địa chính trị chiến lược luôn là một chủ đề gây tranh cãi sâu sắc. Kinh tế học chắc chắn cấu thành một phần không thể tách rời của nền chính trị quốc tế, song vai trò hệ hình của nó trên thực tế thường chỉ mang tính cục bộ và chiếm một tỷ lệ mang tính phân số. Trái ngược với các học thuyết kinh tế về chủ nghĩa đế quốc của Marxist-Leninist vốn rất phổ biến ở thế kỷ trước – cho rằng phần lớn các cuộc xung đột vũ trang quốc tế đều bắt nguồn từ sự thúc đẩy của lợi ích tư bản và tìm kiếm thị trường – các nhà sử học thực tế không thể tìm thấy dấu vết của các lợi ích kinh tế cốt lõi đứng sau sự bùng nổ của Thế chiến thứ nhất. Cụ thể, cả Anh và Pháp đều không sở hữu những vùng lãnh thổ hấp dẫn hay nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt nào có thể khiến Đức và Áo kỳ vọng khai thác hay hưởng lợi thông qua con đường áp đặt quân sự. Tương tự, nếu lùi sâu hơn về quá khứ để xem xét cuộc Chiến tranh Pháp - Phổ năm 1870, sự kiện dẫn đến việc chuyển giao quyền kiểm soát các tỉnh Alsace và Lorraine từ Hoàng đế Napoleon III sang Thủ tướng Otto von Bismarck, giới phân tích nhận thấy chương lịch sử này không hề làm gia tăng một cách đáng kể mức độ thịnh vượng toàn cục của những người Đức chiến thắng, và cũng không trực tiếp tước đoạt hay làm suy giảm sự phồn vinh lâu dài của quốc gia Pháp bại trận. Những minh chứng lịch sử này củng cố luận điểm rằng chính trị cường quyền sở hữu một không gian vận hành độc lập tương đối, nơi các yếu tố về vị thế, danh dự quốc gia và cán cân quyền lực đôi khi vượt lên trên các bài toán tối ưu hóa lợi ích kinh tế thuần túy.

2. Sự đan xen giữa địa chính trị và kinh tế: điểm đảo chiều chiến lược năm 1941
Mặc dù thừa nhận sự độc lập tương đối của chính trị quyền lực, giới nghiên cứu không được phép tuyệt đối hóa hoặc cường điệu hóa ranh giới giữa chính trị cường quyền và kinh tế học. Trên thực tế, có những thời điểm mang tính bước ngoặt khi các quyết định kinh tế trở thành ngòi nổ trực tiếp cho các hành động quân sự quy mô lớn. Điển hình là vào năm 1941, khi Đế quốc Nhật Bản đang quyết liệt theo đuổi tầm nhìn chiến lược về một "Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á". Trước động thái bành trướng này, chính quyền Mỹ dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế ngặt nghèo nhằm hạn chế tối đa khả năng tiếp cận của Nhật Bản đối với các nguồn nguyên liệu thô chiến lược. Hành động phong tỏa kinh tế này từ phía Mỹ rất có thể đã trở thành một nhân tố mang tính quyết định, đẩy Nhật Bản vào thế chân tường và thuyết phục giới lãnh đạo nước này đưa ra quyết định tuyên chiến với Hoa Kỳ, đồng thời vạch kế hoạch cho cuộc tấn công bất ngờ vào Trân Châu Cảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh thời bình bình thường và với một hệ thống thương mại quốc tế tương đối tự do như hiện nay, các quốc gia có xu hướng kỳ vọng rằng những chương đen tối mang tính loại trừ lẫn nhau như vậy trong lịch sử sẽ dần mất đi tính thời sự và liên quan. Thương mại tự do đóng vai trò như một cơ chế giảm thiểu rủi ro xung đột bằng cách cung cấp một con đường hòa bình để tiếp cận tài nguyên thay vì phải viện đến các cuộc chinh phạt vũ trang.
3. Trật tự hợp tác Mỹ - Nhật hậu thế chiến II: Thành quả của sự phân công lao động quốc tế
Giai đoạn nửa sau thế kỷ XX chứng kiến sự thiết lập của một mô hình hợp tác kinh tế song phương hết sức đặc biệt giữa Mỹ và Nhật Bản dưới một trật tự hòa bình bền vững. Trong suốt nửa thế kỷ này, Hoa Kỳ đã liên tục cung cấp một thị trường xuất khẩu cực kỳ thuận lợi cho nền kinh tế Nhật Bản đang trong giai đoạn phát triển và tái thiết. Ở chiều ngược lại, người tiêu dùng Mỹ cũng nhận được những lợi ích to lớn, giúp nâng cao đáng kể tiêu chuẩn sống nhờ vào khả năng tiếp cận nguồn hàng hóa nhập khẩu giá rẻ, có chất lượng cao và liên tục được đổi mới công nghệ từ Nhật Bản. Những thành quả kinh tế vượt bậc này hoàn toàn là sự gặt hái từ một nền hòa bình lâu dài và sự vận hành hiệu quả của hệ thống phân công lao động kinh tế quốc tế, chứ không phải là những chiến lợi phẩm tranh chấp được từ chiến tranh hay các cuộc viễn chinh xâm lược. Tuy nhiên, mô hình phát triển hậu Thế chiến II này không phải là một hệ thống đạt đến sự hoàn hảo tuyệt đối. Cả các chuyên gia kinh tế Nhật Bản và Mỹ đều đồng thuận rằng chính sách bảo hộ kéo dài mang tính truyền thống của Nhật Bản đối với tầng lớp nông dân nội địa đã gây ra những tổn thất vô ích cho nền kinh tế (deadweight loss), ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ nguồn lực của cả hai quốc gia.
4. Khủng hoảng tiết kiệm và lời cảnh báo từ xu hướng nhân khẩu học Nhật Bản
Một khía cạnh cấu trúc ít được chú ý hơn nhưng lại để lại những hệ lụy sâu sắc cho nền kinh tế Nhật Bản chính là hiệu quả vận hành của dòng vốn nội địa trong giai đoạn từ năm 1950 đến năm 2000. Trong suốt nửa thế kỷ này, những người tiết kiệm Nhật Bản đã phải chấp nhận mức lợi tức thực tế thấp hơn rất nhiều đối với các tài sản của họ so với mức mà họ đáng lẽ có thể đạt được nếu danh mục đầu tư được đa dạng hóa một cách mạnh mẽ hơn vào thị trường cổ phiếu phổ thông, cũng như mở rộng sang các thị trường tài sản của Bắc Mỹ và châu Âu. Đối với một xã hội đang phải nhìn về tương lai với những dự báo rõ ràng về một sự dư thừa nghiêm trọng số lượng người nghỉ hưu (plethora of retirees) đi kèm với tình trạng khan hiếm, thiếu hụt lực lượng lao động trong độ tuổi sụt giảm (dearth of working-age populace), những tổn thất về lợi tức tích lũy này đã làm tiêu tán một nguồn quỹ dự phòng khổng lồ và thiết thực cho một quần chúng nhân dân vốn vô cùng chăm chỉ và tiết kiệm của Nhật Bản. Sai lầm trong chiến lược quản lý tài sản quốc gia này đã làm giảm khả năng tự chống chịu của nền kinh tế Nhật Bản trước áp lực già hóa dân số trong thế kỷ mới.
5. Thập niên 1990: sự suy giảm tự tin và học thuyết hồi quy về mức trung bình
Thập niên 1990 đóng vai trò là một giai đoạn mang tính cảnh tỉnh và làm giảm sút nghiêm trọng niềm tự hào cũng như sự tự tin của người Nhật khi đặt trong tương quan so sánh với thế giới phương Tây. Đây là một thực tế hoàn toàn khác biệt so với các thập kỷ bùng nổ trước đó, thời điểm mà tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nhật Bản đứng ở mức rất cao theo các tiêu chuẩn toàn cầu. Giai đoạn hoàng kim cũ đó là lúc các khẩu hiệu mang tính dân tộc chủ nghĩa về "giá trị châu Á" và các phương pháp quản lý kinh tế kiểu Nhật độc đáo kết hợp với nhau để thổi phồng lòng tự tôn quốc gia, thậm chí tạo ra một bộ phận tâm lý coi thường các quy trình quản trị mang tính sách vở, giáo điều của Trường Kinh doanh Harvard. Tuy nhiên, dựa trên quy luật vận hành mang tính hệ thống của kinh tế học, có những cơ sở vững chắc để tin tưởng vào xu hướng "hồi quy về mức trung bình" (reversion toward the mean). Quy luật này cho phép đưa ra dự báo rằng, sau một vài năm điều chỉnh cấu trúc, Nhật Bản sẽ quay trở lại một tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức độ nhất định, có khả năng vượt qua tốc độ tăng trưởng của Tây Âu và Bắc Mỹ. Đến mốc năm 2010, Nhật Bản được kỳ vọng sẽ thiết lập lại trạng thái cân bằng ảo (virtual parity) về năng suất bình quân đầu người so với các quốc gia dẫn đầu toàn cầu trong tiến trình công nghiệp hóa. Mặc dù vậy, việc liệu Nhật Bản có thể thực sự bứt phá để vươn lên vượt mặt các cường quốc dẫn đầu phương Tây hay không vẫn là một câu hỏi mang tính thách thức và khó dự đoán. Thực tế lịch sử vào khoảng năm 1975 cho thấy, khi Nhật Bản đạt được mức thu nhập bình quân đầu người cận kề với Đức, Anh và Pháp, quốc gia này – tương tự như các nước châu Âu kể trên – đã thất bại trong việc tiếp tục tạo ra một cú bứt phá mạnh mẽ để vượt qua các ngưỡng năng suất cốt lõi của Mỹ. Rõ ràng, việc thực hiện chiến lược bắt kịp và bắt chước (catch up and imitate) các mô hình có sẵn luôn dễ dàng hơn rất nhiều so với việc lao nhanh về phía trước và vượt qua các giới hạn cũ trong việc tạo ra các đổi mới công nghệ mang tính đột phá. Dẫu vậy, lịch sử kinh tế thế giới cũng từng chứng kiến nước Mỹ vào cuối thế kỷ XIX đạt được trạng thái cân bằng năng suất với Đế quốc Anh thống trị, để rồi sau đó vươn lên dẫn đầu thế giới. Do đó, những gì một quốc gia đã làm được thì quốc gia khác cũng có thể tái lập; và trong tương lai, Nhật Bản với quy mô dân số bằng một nửa nước Mỹ hoàn toàn sở hữu tiềm năng để vượt qua mức một nửa tổng sản lượng kinh tế của Hoa Kỳ.
Nguyễn Thanh Sinh
Tin khác:
- KIẾN TRÚC AN NINH VÀ CẠNH TRANH ĐỊA CHÍNH TRỊ TẠI CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CHIẾN LƯỢC TRONG QUAN HỆ MỸ - NHẬT – TRUNG
- MỘT SỐ QUAN ĐIỂM ĐẤU TRANH, CHỐNG LẠI CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI PHẢN ĐỘNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY
- GIỚI THIỆU SÁCH Một vành đai một con đường: Hành trình dài của Trung Quốc đến năm 2049
- LƯỠNG HÀ (MESOPOTAMIA): CÁI NÔI CỦA VĂN MINH NHÂN LOẠI TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
- GIỚI THIỆU SÁCH: COVID-19: ĐẠI DỊCH ĐÁNG LẼ KHÔNG BAO GIỜ XẢY RA VÀ LÀM CÁCH NÀO ĐỂ NGĂN CHẶN ĐẠI DỊCH TIẾP





